Bệnh Viện Đa Khoa Đại Từ
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Tin tức
  • Bảng giá dịch vụ
  • Thông tin dược
  • Văn bản
    • VĂN BẢN BỘ Y TẾ
    • VĂN BẢN SỞ Y TẾ
    • VĂN BẢN BHYT
    • THÔNG TIN THẦU
    • DS NGƯỜI THỰC HÀNH KB-CB
  • Hướng dẫn người bệnh
    • BẢO HIỂM
  • Liên hệ
No Result
View All Result
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Tin tức
  • Bảng giá dịch vụ
  • Thông tin dược
  • Văn bản
    • VĂN BẢN BỘ Y TẾ
    • VĂN BẢN SỞ Y TẾ
    • VĂN BẢN BHYT
    • THÔNG TIN THẦU
    • DS NGƯỜI THỰC HÀNH KB-CB
  • Hướng dẫn người bệnh
    • BẢO HIỂM
  • Liên hệ
No Result
View All Result
Bệnh Viện Đa Khoa Đại Từ
No Result
View All Result
Bản tin Cảnh giác dược số 02/2025

Bản tin Cảnh giác dược số 02/2025

20/12/2025

Bản tin Cảnh giác dược số 02/2025 cập nhật một số thông tin an toàn thuốc mới nhằm hỗ trợ cán bộ y tế trong thực hành kê đơn, theo dõi và xử trí phản ứng có hại của thuốc (ADR). Nội dung số này tập trung vào nguy cơ ung thư da khi dùng hydrochlorothiazid kéo dài, cảnh báo phản ứng dị ứng liên quan xuyên tâm liên và tổng hợp bằng chứng mới về việc sử dụng paracetamol trong thai kỳ. Kính đề nghị cán bộ y tế lưu ý và báo cáo ADR theo quy định.

BÀI LIÊN QUAN

Thông báo thuốc giả, thuốc không rõ nguồn gốc

BẢN TIN CẢNH GIÁC DƯỢC SỐ 1 NĂM 2025

DANH MỤC VẬT TƯ Y TẾ, HOÁ CHẤT, THIẾT BỊ Y TẾ SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐẠI TỪ

I, Thuốc lợi tiểu hydrochlorothiazid và nguy cơ ung thư da: Thông tin từ Viện Hàn lâm Y khoa Pháp

Hydrochlorothiazid là một trong những thuốc lợi tiểu được sử dụng phổ biến nhất tại Pháp và châu Âu, do khả năng dung nạp tốt và hiệu quả cao trong điều trị tăng huyết áp. Theo thống kê, tại Pháp, có hơn một triệu bệnh nhân được kê đơn hydrochlorothiazid mỗi năm (bao gồm cả dạng đơn độc và kết hợp). Mạng lưới các Trung tâm Cảnh giác Dược vùng của Pháp đã chỉ ra rằng hydrochlorothiazid có liên quan đến nguy cơ ung thư da trên bệnh nhân và nguy cơ này phụ thuộc vào liều, thời gian điều trị, đặc biệt khi liều tích lũy lớn hơn 50.000mg.

Các nghiên cứu thực nghiệm gần đây cho thấy việc sử dụng các thuốc lợi tiểu hydrochlorothiazid có thể làm tăng độ nhạy cảm của da với ánh sáng, do đó dễ gây tổn thương da khi tiếp xúc với ánh sáng và làm tăng nguy cơ ung thư biểu mô tế bào vảy ở da và môi. Theo đó, Viện Hàn lâm Y khoa Pháp nhắc lại các khuyến cáo dự phòng nguy cơ như sau:

+ Đối với bác sĩ:

– Khi bắt đầu điều trị, bác sĩ cần khai thác tiền sử ung thư da và thực hiện khám da, môi cho bệnh nhân. Mặc dù tiền sử ung thư biểu mô tế bào vảy không phải là chống chỉ định của hydrochlorothiazid, nhưng cần theo dõi biến cố trên da trên nhóm bệnh nhân này với tần suất ít nhất 2 lần/năm.

– Khi kê lại đơn thuốc, bác sĩ cần kiểm tra da 1-2 lần mỗi năm, đặc biệt chú ý đến những vùng da thường xuyên tiếp xúc với ánh sáng.

Buy JNews

+ Đối với bệnh nhân:

– Chủ động kiểm tra da để phát hiện sớm những thay đổi bất thường.

– Che chắn cẩn thận khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời bằng việc mặc quần áo che nắng, sử dụng kem chống nắng phổ rộng để bảo vệ da khỏi tác động của tia UVB và UVA – những nguyên nhân liên quan trực tiếp đến nguy cơ ung thư da.

+ Đối với dược sĩ:

– Nhắc nhở bệnh nhân về các biện pháp bảo vệ da và tự kiểm tra da thường xuyên.

– Khuyến cáo bệnh nhân thông báo ngay cho bác sĩ khi xuất hiện bất kỳ tổn thương nào trên da.

II, Medsafe: Cảnh báo nhắc lại về phản ứng dị ứng khi sử dụng sản phẩm chứa Xuyên tâm liên

Xuyên tâm liên (Andrographis paniculata) là một dược liệu được sử dụng tương đối phổ biến trong các thực phẩm bảo vệ sức khỏe có nguồn gốc từ dược liệu. Dược liệu này thường được sử dụng phối hợp với các dược liệu khác trong các sản phẩm này nhằm hỗ trợ miễn dịch hoặc giảm triệu chứng cảm lạnh và cúm.

Cơ quan Quản lý Dược phẩm New Zealand (Medsafe) đã đưa ra cảnh báo về nguy cơ phản ứng dị ứng liên quan đến xuyên tâm liên từ năm 2017. Các triệu chứng dị ứng được cảnh báo có thể nghiêm trọng, bao gồm ban da, mày đay, ngứa, cảm giác nghẹn hoặc sưng họng và phản ứng phản vệ. Ngoài ra, bệnh nhân có thể xuất hiện các triệu chứng trên hệ hô hấp (như khò khè, thở rít) và hệ tiêu hóa (tiêu chảy, nôn). Mắc dù đã có cảnh báo trước đó, đến hiện nay, các báo cáo về phản ứng quá mẫn vẫn tiếp tục được ghi nhận, với khoảng ba ca bệnh mỗi năm kể từ năm 2023. Theo đó, Medsafe đưa ra cảnh báo nhắc lại này nhằm tăng cường nhận thức về nguy cơ dị ứng liên quan các sản phẩm chứa xuyên tâm liên trong cộng đồng.

+ Khuyến cáo dành cho nhân viên y tế

– Khai thác việc sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên bên cạnh thuốc kê đơn và thuốc không kê đơn ở bệnh nhân khi xuất hiện các phản ứng quá mẫn

– Tư vấn bệnh nhân ngừng sử dụng và không tái sử dụng các sản phẩm có chứa xuyên tâm liên khi có tiền sử phản ứng dị ứng với dược liệu này. Hướng dẫn bệnh nhân kiểm tra kỹ danh mục thành phần trên nhãn sản phẩm hoặc tờ hướng dẫn sử dụng để tránh phơi nhiễm lặp lại với tác nhân đã gây dị ứng.

– Tăng cường báo cáo phản ứng có hại liên quan đến các sản phẩm chăm sóc sức khỏe có nguồn gốc dược liệu.

III, SFPT: Cập nhật các bằng chứng về mối liên quan giữa việc sử paracetamol trong thai kỳ và nguy cơ tự kỷ ở trẻ

Gần đây, một số nguồn thông tin cho rằng việc sử dụng paracetamol trong thai kỳ có thể là nguyên nhân dẫn đến rối loạn phổ tự kỷ ở thai nhi. Do đó, nhiều nghiên cứu quan sát đã tiến hành đánh giá mối liên hệ tiềm ẩn giữa việc sử dụng paracetamol trong thai kỳ và sự xuất hiện của các rối loạn phát triển thần kinh, đặc biệt là rối loạn phổ tự kỷ và rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD). Mặc dù một số trong các nghiên cứu này đã chỉ ra được mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa việc sử dụng paracetamol trong thai kỳ với chứng tự kỷ ở trẻ, tuy nhiên việc diễn giải kết quả nghiên cứu vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

Nguyên nhân là do trong các nghiên cứu trên có thể còn tồn tại các yếu tố gây nhiễu không được kiểm soát, chẳng hạn như yếu tố di truyền đóng vai trò then chốt trong cơ chế hình thành rối loạn tự kỷ. Do đó, khi các nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi anh chị em ruột thì mối liên quan thống kê này giảm đi đáng kể hoặc thậm chí biến mất.

+ Quan điểm ​​của Hiệp hội Dược lý và Điều trị Pháp (SFPT)

Cho đến nay, chưa có bằng chứng khoa học nào được tìm thấy để thiết lập mối quan hệ nhân quả giữa việc sử dụng paracetamol trong thai kỳ và sự xuất hiện của chứng rối loạn tự kỷ ở thai nhi. Paracetamol vẫn là thuốc đầu tay để hạ sốt hoặc giảm đau trong thai kỳ. Ngược lại, các lựa chọn thay thế như aspirin, ibuprofen và rộng hơn là các thuốc kháng viêm không steroid có những nguy cơ đã được ghi nhận rõ ràng trong thai kỳ, thậm chí có chống chỉ định.

Cũng như bất kỳ loại thuốc nào được sử dụng trong thai kỳ, paracetamol nên được dùng ở liều thấp nhất có hiệu quả và trong thời gian ngắn nhất có thể. Các cơ quan chuyên môn và cơ quan quản lý quốc gia và quốc tế cũng đồng thuận với quan điểm này.

+ Dữ liệu bổ sung về mối liên quan giữa paracetamol và nguy cơ tự kỷ ở trẻ

Paracetamol (hay acetaminophen) được lưu hành trên thị trường ở hầu hết các quốc gia trên thế giới từ những năm 1950. Thuốc được chỉ định để giảm đau và/hoặc hạ sốt mức độ nhẹ đến trung bình. Do đó, thuốc được sử dụng rộng rãi tại các cơ sở ngoại trú và bệnh viện ở mọi lứa tuổi.

Paracetamol không phải là thuốc gây quái thai hoặc độc cho thai nhi. Trong hơn một thập kỷ, nhiều nghiên cứu đã tiến hành nhằm làm rõ mối liên hệ giữa việc người mẹ phơi nhiễm với paracetamol trong thai kỳ và sự xuất hiện của các rối loạn phát triển thần kinh, chẳng hạn như rối loạn phổ tự kỷ. Trong đó, một vài nghiên cứu đã tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê, mặc dù còn nhiều ý kiến trái chiều, nhưng đã khiến một số tác giả đưa ra tuyên bố đồng thuận trên tạp chí Nature Reviews Endocrinology năm 2021. Bài báo này đã thúc đẩy các hội học thuật như Mạng lưới Dịch vụ Thông tin về Quái thai Châu Âu (ENTIS), Học viện Sản phụ khoa Hoa Kỳ (ACOG) và Hiệp hội Y học Bà mẹ – Thai nhi (SMFM) đưa ra quan điểm mới hoặc tái khẳng định quan điểm trước đây của họ. Tất cả các lập trường này đều cùng chung kết luận: “Dữ liệu hiện có không đủ để xác định mối quan hệ nhân quả giữa việc sử dụng paracetamol trong thai kỳ và các rối loạn phát triển thần kinh ở thai nhi. Đến nay, những quan điểm này vẫn không thay đổi”.

Năm 2024, một trong những nghiên cứu lớn nhất về chủ đề này đã được một nhóm chuyên gia Thụy Điển công bố trên JAMA, với mẫu nghiên cứu trên hơn 2 triệu trẻ em sinh từ năm 1995 đến năm 2019. Đây là một nghiên cứu đoàn hệ tham chiếu dữ liệu phơi nhiễm paracetamol thu được từ những hồ sơ kê đơn với chẩn đoán cho chứng tự kỷ, rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) và khuyết tật trí tuệ. Hơn 7% trẻ em được coi là đã phơi nhiễm với paracetamol trước khi sinh. Kết quả cho thấy các mối liên quan rất nhỏ giữa việc sử dụng paracetamol với các biến cố rối loạn thần kinh ở trẻ, cụ thể chứng tự kỷ: HR = 1,05 (IC 95%: 1,02–1,08); ADHD: HR = 1,07 (IC 95%: 1,05–1,10); chậm phát triển trí tuệ: HR = 1,05 (IC 95%: 1,00–1,10).

Tuy nhiên, khi nhóm tác giả hiệu chỉnh theo các yếu tố gây nhiễu như tình trạng sức khỏe của mẹ, yếu tố di truyền hay môi trường bằng cách so sánh trẻ bị phơi nhiễm với anh chị em trong cùng một gia đình, các mối liên hệ này biến mất hoàn toàn. Tương tự, nhóm nghiên cứu không ghi nhận mối quan hệ liều – đáp ứng, do đó không có cơ sở cho giả thuyết về mối liên hệ nhân quả.

Năm 2025, một bài tổng quan các nghiên cứu hiện có được công bố, kết luận rằng paracetamol không có khả năng gây ra sự gia tăng đáng kể về mặt lâm sàng nguy cơ mắc ADHD hoặc tự kỷ ở trẻ em.

Những hạn chế của các nghiên cứu quan sát thiết lập mối liên hệ giữa việc sử dụng paracetamol trong thai kỳ và các rối loạn phát triển thần kinh bao gồm:

–  Khó khăn trong việc đo lường chính xác mức độ phơi nhiễm paracetamol bằng dữ liệu hoàn trả chi phí chăm sóc sức khỏe có sẵn hoặc sử dụng các nghiên cứu bảng câu hỏi của mẹ (nguy cơ sai lệch do nhớ lại);

–  Sai lệch chỉ định: việc sử dụng thuốc không bao giờ là ngẫu nhiên, đặc biệt là trong thai kỳ; phụ nữ mang thai dùng paracetamol có nhiều khả năng bị sốt, đau mãn tính hoặc nhiễm trùng, bản thân những yếu tố này có thể gây nguy cơ cho sự phát triển của thai nhi;

–  Thiếu dữ liệu chi tiết về liều lượng, thời gian và thời điểm phơi nhiễm trong thai kỳ;

–  Việc đánh giá không đồng nhất các rối loạn phát triển thần kinh ở trẻ em, với tiêu chuẩn chẩn đoán không rõ ràng, đã phát triển trong thập kỷ qua và đôi khi dựa trên các nguồn không được xác minh về mặt y tế (ví dụ: khảo sát phụ huynh hoặc giáo viên);

–  Không kiểm soát được các yếu tố gây nhiễu di truyền và gia đình;

–  Việc kiểm soát hiệu quả đau và sốt trong thai kỳ là cần thiết. Trong một số trường hợp, những tình trạng này có thể gây hại cho sự phát triển thai nhi, làm tăng nguy cơ sảy thai, dị tật bẩm sinh, chậm phát triển trong tử cung hoặc sinh non. Paracetamol vẫn là lựa chọn điều trị đầu tay cho các cơn đau và sốt trong thai kỳ. Các lựa chọn điều trị khác, chẳng hạn như thuốc kháng viêm không steroid (NSAID), có thể dẫn đến nguy cơ thai chết lưu và sinh non nếu sử dụng sau tuần thứ 20 của thai kỳ.

 

Kết luận và khuyến nghị

Trên đây là một số cập nhật quan trọng về an toàn thuốc trong thực hành lâm sàng. Kính đề nghị cán bộ y tế lưu ý các khuyến cáo khi sử dụng hydrochlorothiazid, xuyên tâm liên và paracetamol trong thai kỳ; đồng thời tăng cường theo dõi và báo cáo phản ứng có hại của thuốc (ADR) theo quy định nhằm đảm bảo an toàn cho người bệnh.

 

ShareShare

Related Posts

Đề cương ôn tập cho kỳ tuyển dụng viên chức của Bệnh viện đa khoa huyện Đại Từ năm 2024
Thông tin dược

Thông báo thuốc giả, thuốc không rõ nguồn gốc

04/06/2025
BẢN TIN CẢNH GIÁC DƯỢC SỐ 1 NĂM 2025
Thông tin dược

BẢN TIN CẢNH GIÁC DƯỢC SỐ 1 NĂM 2025

05/05/2025
Đề cương ôn tập cho kỳ tuyển dụng viên chức của Bệnh viện đa khoa huyện Đại Từ năm 2024
Thông tin dược

DANH MỤC VẬT TƯ Y TẾ, HOÁ CHẤT, THIẾT BỊ Y TẾ SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐẠI TỪ

28/12/2024
BẢN TIN CẢNH GIÁC DƯỢC SỐ 2/2024
Thông tin dược

BẢN TIN CẢNH GIÁC DƯỢC SỐ 2/2024

17/09/2024
BẢN TIN CẢNH GIÁC DƯỢC SỐ 1/2024
Thông tin dược

BẢN TIN CẢNH GIÁC DƯỢC SỐ 1/2024

20/06/2024
Dự kiến đến 15/7, thêm 3.000 thuốc, nguyên liệu làm thuốc, sinh phẩm y tế được gia hạn số đăng ký
Thông tin dược

Công văn số 6125/QLD-CL về việc thông báo thu hồi thuốc vi phạm mức độ 2 (Thuốc Siro uống Siro Nutrohadi F, Số GĐKLH: VD- 18684-13, Số lô: 030221; NSX: 240221; HD: 230224)

15/07/2022
Next Post
Đề cương ôn tập cho kỳ tuyển dụng viên chức của Bệnh viện đa khoa huyện Đại Từ năm 2024

Quyết định: Về việc công bố công khai dự toán ngân sách năm 2025 của Bệnh viện đa khoa Đại Từ

Đề cương ôn tập cho kỳ tuyển dụng viên chức của Bệnh viện đa khoa huyện Đại Từ năm 2024

THÔNG BÁO Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đáp ứng yêu cầu là cơ sở hướng dẫn thực hành để cấp giấy phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh trên Trang thông tin điện tử của Sở Y tế Thái Nguyên

Để lại một bình luận Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Đề xuất

THÔNG BÁO Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đủ điều kiện thực hiện khám sức khỏe, khám và điều trị HIV/AIDS

17/05/2024
VNVC và Sanofi ký kết tiến tới hợp tác sản xuất vắc xin tại Việt Nam

VNVC và Sanofi ký kết tiến tới hợp tác sản xuất vắc xin tại Việt Nam

10/10/2024
An toàn trong chẩn đoán là ưu tiên trong chiến lược phát triển y tế

An toàn trong chẩn đoán là ưu tiên trong chiến lược phát triển y tế

18/09/2024

BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐẠI TỪ

Địa chỉ: Tổ dân phố Sơn Tập, xã Đại Phúc, tỉnh Thái Nguyên
Điện thoại: 02083 824 281. Fax: 02083 824 281
Email: bvdaitu@thainguyen.gov.vn

  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Tin tức
  • Bảng giá dịch vụ
  • Thông tin dược
  • Văn bản
  • Hướng dẫn người bệnh
  • Liên hệ
No Result
View All Result
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Tin tức
  • Bảng giá dịch vụ
  • Thông tin dược
  • Văn bản
    • VĂN BẢN BỘ Y TẾ
    • VĂN BẢN SỞ Y TẾ
    • VĂN BẢN BHYT
    • THÔNG TIN THẦU
    • DS NGƯỜI THỰC HÀNH KB-CB
  • Hướng dẫn người bệnh
    • BẢO HIỂM
  • Liên hệ

© 2022 - Bệnh Viện Đa Khoa Huyện Đại Từ - Thái Nguyên.

(02083) 824-281